NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT -- NAM MO A DI DA PHAT

                                                                                                                

      Ta Thừa Vưng Sắc Lịnh Thế Tôn                             

   Khắp Hạ Giái Truyền Khai Đạo Pháp                          

                                                 

                                           Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Của Đức Huỳnh Giáo Chủ 

                                                     Thay lời tựa  Khải Ngôn Tiểu Sử   Lịch Sử Sự Cúng Lạy   Thờ Phượng

                                                                 Sấm Giảng  Thi Văn Giáo Lư    Cặn Bả Kư Ức           

                                                     Home    H́nh Ảnh Âm Thanh  Nối Kết  English

                                                                                      Những Tục Lệ Của Ngày Tết

                                                                         

                                                                                                              

                                                              

 

  Quyển1       Quyển 2     Quyển 3     Quyển 5     Quyển 6 

 

QUYÊN TƯ

 

Giác Mê Tâm Kệ

Đây là quyển thứ tư mà Đức Thầy đă  viết

ngày 20 tháng 9 năm Kỷ-Măo (1939)

Tại  Ḥa-Hảo  ( 846 câu )

 

***

Khai ngọn đuốc từ-bi chí thiện,

T́m con lành dắt lại Phật đường.

Thương dân hiền giáo đạo Nam-phương,

Đặng chỉ ngơ làm lành lánh dữ.

Sách Thánh đạo ghi trong Tam-Tự,

Người mới sanh tánh thiện Trời dành.

Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,

Nên tật xấu che mờ thiện-tánh.

Thiếu giáo-dục thiếu thêm đức-hạnh,

Ta quyết ḷng nhắc lại tánh xưa.

Mặc t́nh đời gièm-siểm ghét ưa,

Rừng kinh-kệ ít người hay chữ.

Quá mắt mỏ bởi chưng Phạn-ngữ,

Nên người đời khó kiếm cho ra.

Mơ chuông bày đọc tụng ó la,

Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa-lư.

Ḍm trước mắt thấy điều hồ-mị,

Nên động t́nh bác-ái dạy răn.

Réo những ai lợi dụng làm xằng,

Cho suy-sụp chơn-nhơn mờ-mịt.

Nào có khác mây đen phủ bít,

Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây.

 

Trang 116

 

 Lấy tinh-thần hiệp vén ngút mây,

Trong bổn-đạo tự thân phải xử.

Xuống dương-thế dạo trong lê-thứ,

Thấy bá-gia gặp lúc năo-nùng.

Cảnh trần-gian nhiều nỗi lao-lung.

Việc tu-tỉnh ít người hiểu lư.

Trong bá-tánh muốn nơi cao quí,

Phải truy tầm huyền-bí nơi cơ.

Từ sấm kinh cho đến thi thơ,

Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.

Tạo làm chi những trung với hiếu !

Ấy là người bổn-phận phải trau.

Khuyên dương-trần đừng nệ cần-lao,

Cũng rán sửa rán trau nền Đạo.

Tu đầu tóc không cần phải cạo,

Miễn cho rồi cái đạo làm người.

Kể từ nay lỡ khóc lỡ cười,

V́ buồn bực thấy đời biến chuyển.

Các chư Phật từ đây lựa tuyển,

Coi ai là đức-hạnh hiền-từ.

Lời sách xưa cận thủy tri ngư,

Cận sơn lănh trần-gian tri điểu.

Trong sấm-giảng nếu ai không hiểu,

Tầm kệ nầy Ta chỉ nẻo đường.

Quyết dạy trần nên nói lời thường,

Cho sanh-chúng đời nay dễ biết.

Trời dông gió sái mùa sái tiết,

Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi.

Khuyên dương-gian bỏ các việc tồi,

Đặng lo liệu cho tṛn phận-sự.

Trang 117

 

 Thấy trần-thế hăy c̣n lưỡng-lự,

Muốn tu mà c̣n hỡi chần-chờ.

Việc thế-gian như thể cuộc cờ,

Thắng với thối một hai nước tướng.

Nào Ai có gạt dân nói bướng,

Mà dương-trần liệu lượng chánh tà.

Ta mến yêu những kẻ thiệt-thà,

Nghe cơ-giảng thiết-tha lo-liệu.

Học đạo-lư như đờn trúng điệu,

Ḥa bản rồi th́ cứ làm theo.

Lũ Tam-Bành trong bụng c̣n đeo,

Đoàn Lục-Tặc ta mau sớm giết.

Mài gươm trí cho tinh cho khiết,

Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.

Đức Di-Đà Phật-Tổ ngóng trông,

Chờ dân-chúng t́m nơi diệt khổ.

Theo Phật-Giáo từ kim chí cổ,

Gốc ông cha ta cũng tu-hành.

Mà ngày nay cứ măi tranh giành,

Danh với lợi, của tiền, quyền tước.

Thấy trần-thế ai ai cũng ước,

Đời sao không tới phứt cho rồi.

Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,

Lúc đói cơm buồn ḷng ngơ ngẩn.

Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,

Như gà cồ ăn bẩn cối xay.

Thấy người hiền nói đắng nói cay,

Sau mới biết thân ai lao khổ.

Nhớ thuở trước oai-linh Phật-Tổ,

Phép thần-thông trừ lũ Ma-Vương.

 

 Trang 118

 

 Chốn rừng ṭng ngồi chịu nắng sương,

T́m đạo-lư hiến cho trần-thế.

Hiệu Lăo-Sĩ ra đời thật-tế,

Đem lời vàng dạy dỗ dương-trần.

Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên-cần,

T́m nguồn-cội diệt-trừ Tứ Khổ.

Bịnh với Tử  từ kim chí cổ,

Sanh với Già hai chữ hoài-hoài.

Đức Thích-Ca xưa ở lầu-đài,

Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Đạo.

Lo tu tỉnh mặc ai khinh-ngạo,

Diệt Lục-Căn đừng nhiễm Lục-Trần.

Chữ Sắc-Thinh chớ có hầu gần,

Hương với Vị xác trần nên lánh.

Chữ Xúc-Pháp treo gương Hiền Thánh,

Tránh Sáu Đường cũng đặng về Thần.

Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,

Mà lê-thứ không lo chẳng liệu.

Nhăn thấy sắc thường hay bận-bịu,

Tai ưa nghe những điệu âm thinh.

Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,

C̣n lỗ mũi ưa mùi êm dịu.

Đồ thơm tho nó ưa nó chịu,

Chốn xạ hương hay lết lại gần.

Lưỡi ưa ngon là chuyện ân-cần,

Đồ ngọt béo nó ưa nó mến.

Thân tham sướng muốn tiền của đến,

Đặng ăn xài cho phỉ tấm t́nh.

Ư th́ ưa sửa sắc soi h́nh,

Với chức phận cho cao cho quí.

 

Trang 119

 

Sáu đường ấy ở trong tâm ư,

Ta mau mau dứt nó cho rồi.

Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,

Mượn trí-đạo đuổi ra khỏi xác.

Dứt được nó ấy là giải thoát,

Th́ xác trần mới khỏi đọa-đày.

Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,

Hăy yên lặng b́nh tâm suy-nghĩ.

Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,

B¡t lỗi người phải xét lỗi ḿnh.

Vậy mới là phải bực công-b́nh,

Nẻo chánh-trực chí người quân-tử.

Người biết Đạo phải ǵn ngôn ngữ,

Nói với ai chớ có sai lời.

Trọng mẹ cha kính nể Phật Trời,

Đừng nhiều tiếng nghinh-ngang mang lỗi.

Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,

Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.

Ta Khùng Điên nói đại nói càn,

Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.

Trời c̣n lúc tối mưa sớm nắng,

Th́ trần-gian c̣n măi khổ lao.

Ở trên đời kẻ thấp người cao,

Kẻ hiền-hậu người th́ gian-ác.

Không quen biết mà cao tuổi tác,

Ta cũng nên kính trọng mới là.

Tâm từ-bi sánh thể ngọc-ngà,

Trong các báu khó b́ tánh Thiện.

Phải xử thế chớ nên bày biện,

Miệng xảo ngôn thường kiện tấm thân.

 Trang 120

 Việc bán buôn phải giữ ngang cân,

Chớ tập tánh lận lường tráo đấu.

Các công cuộc của người tánh xấu,

Ta giữ-ǵn chớ có nhiễm vào.

Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,

Mến những kẻ biết vào đường chánh.

Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,

Nên truyền ban cho chúng-sanh tường.

Tuy ngày nay chúng nó hùng-cường,

Chừng phân định th́ Ta cao-quí.

Khuyên bổn-đạo lập thân nuôi chí,

Đặng chờ ngày yết-kiến Phật Trời.

Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời,

Cho trần-hạ t́m trong lánh đục.

Chẳng chịu tu măi c̣n lục-thục,

Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.

Ham công-danh quên chữ sanh-thành,

Mến phú-quí quên câu dưỡng-dục.

Rán kiếm chỗ tầm Tiên lánh tục,

Người ở đời phải được ḷng trong.

Biển hồng-trần sớm gội cho xong,

Ngày lập Hội mới mong trở lại.

Chữ bần-tiện khuyên dân đừng nại,

Miễn cho ta trở lại ngay đàng.

Chữ vinh-hoa giờ chớ có màng,

Bởi giả tạm của đời Ngươn-hạ.

Gắng công tu xem nhiều phép lạ,

Của Thần-Tiên trừ lũ hung-đồ.

Nào lụa là, lănh nhiễu, tố sô,

Chớ ham mến mà sau lao-lư.

 Trang 121

 

 Ngày tiêu-diệt từ năm Bính-Tư,

Đến năm nay hao hớt đă nhiều.

Các ngoại bang đà nhuộm máu điều,

Sao trần-thế không toan chẳng liệu.

Để đến việc dang lưng mà chịu,

Chớ Phật đâu cứu kịp cho người.

Khuyên chúng-sanh bỏ tánh biếng lười,

Phải sốt-sắng làm ăn cần-thiết.

Nghèo với đói từ đây sẽ biết,

Hàng ngoại bang bố-thiết ta hoài.

Nên bá-gia hăy rán miệt-mài,

Dầu rách rưới cũng mau cần kiệm.

Lời Ta dạy hăy nên suy-nghiệm,

Phải phá tan Ngũ-Uẩn trong ḿnh.

Chữ Tham trong ư muốn mặc t́nh,

Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.

Chữ gây-gổ là Sân hăy diệt,

Cho nó đừng thấp-thoáng trong ḷng.

Thêm chữ Si thiệt quá ḷng-ḍng,

Nên tỉnh trí t́m nơi dụt tắt.

Chữ Nhơn Ngă cũng là quá gắt,

Ta chớ nên phân-biệt với người.

Dẹp năm tên được mới mừng cười,

Vô pháp tướng mới là thiệt tướng.

Người tu hành phải trừ nghiệp-chướng,

Với bốn ma mới đặng an nhàn.

Tửu nhiễm vào thân-thể bất an,

Sắc mến nó ngày kia lao khổ.

Ta nghiệm xét từ đời Bàn-Cổ,

Có ai dùng mà đặng thành Tiên.

Trang 122

Mà đời nay theo nó liên-miên,

Chữ Tài của khổ riêng một kiếp.

Bị tội cướp nào ai có tiếp,

Mà đời nay nó cứ măi làm.

Chữ Khí hùng khuyên chớ có ham,

Mà lao-lư tấm thân trần-thế.

Kẻ nhứt dạ thường sanh bá kế,

Để gạt người làm thế cho ḿnh.

Ngày sau nầy lắm nỗi tội t́nh,

Sao sanh-chúng chẳng lo cải sửa.

Bịnh ôn-dịch thường hay ói mửa,

Mà dương-trần chẳng chịu kiêng-dè.

Qua năm Dê đến lúc mùa hè,

Trong bá-tánh biết ai hữu chí.

Ta chịu lịnh Tây-Phương thọ kư,

Ǵn Nghiệt-Long đặng cứu dương-trần.

Nên ra đời dạy-dỗ ân-cần,

Khuyên bá-tánh vạn dân liệu lấy.

Khổ với thảm ngày nay có mấy,

Sợ mai sau ḍm thấy bay hồn.

Trừ tà-gian c̣n thiện chỉ tồn,

Cảnh sông máu núi xương tha-thiết.

Trần với thế bây giờ nào biết,

Chừng nh́n xem hư thiệt mới tường.

Ta bây giờ tu niệm tầm thường,

Sau danh thể xạ hương khắp chốn.

Nhà giàu có xài không sợ tốn,

Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.

Lo ăn xài trà rượu x́nh-xoàng,

Chừng khổ-năo phàn-nàn căn số.

 

 Trang 123

  

Lời truyền sấm như bài toán đố,

Ai biết tầm th́ đặng hưởng nhờ.

Ta khuyên tu dân cứ măi ngờ,

Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắc.

Bị ngoại quốc bán hàng quá gắt,

Nên dân ta chịu chữ cơ-hàn.

Ta Khùng Điên của cải chẳng màng,

Miễn lê-thứ được câu hạnh-phúc.

Cờ thế-giới ngày nay gần thúc,

Nên Phật Tiên phải xuống hồng-trần.

Chừng lao-xao ác thú non Tần,

Th́ Nam-Quốc lương-dân mới biết.

Nay dạy thế cậy cùng ng̣i viết,

Với xác trần du-thuyết ít hàng.

Ai nói chi Ta cũng chẳng màng,

Sau biết đặng dân đừng có tiếc.

Con phù-du hẫng-hờ nào biết,

Thấy bóng đèn th́ quyết chun vô.

Thảm thương thay chết héo chết khô,

Nh́n đèn nọ thấy mồ phù-dũ.

Kệ khuyên trần đă măn mùa thu,

Đeo danh-lợi như con vật ấy.

Giống xe cát biển đông thường thấy,

Tên dă-tràng rất uổng công-tŕnh.

Khi nước ṛng nhờ lúc b́nh-minh,

Lúc nước lớn cát kia tan ră.

Trần phú-quí th́ trần thong-thả,

Chớ c̣n Ta cứ khổ-lao hoài.

Viết kệ-cơ giảng dạy ít bài,

Mặc lê-thứ làm không tự ư.

 Trang 124

 Coi rồi phải nhận cho hiểu lư,

Câu huyền-sâu của kẻ Khùng nầy.

Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,

Chớ chẳng phải của người lăng trí.

Mê với tỉnh nhận ra là lư,

Thấy dương-trần ngủ măi ngủ hoài.

Thức dậy mà tầm Đạo kiếm bài,

Để thi-cử khỏi mang tiếng rớt.

Sách khuyến-thiện miệng kêu không ngớt,

Mà nào ai có thức dậy tầm.

Ta nghĩ suy cũng bắt hổ thầm,

Nên than-thở cùng trần ít tiếng.

Tâm sang-suốt như đài nguyệt-kiến,

Tánh trong như nước bích mùa xuân.

Nếu không tu chừng khổ cũng ưng,

Đừng có trách sao không chỉ bảo.

Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lăo,

Mắc trong ṿng sanh-tử luân-hồi.

Xuống Diêm-Đ́nh thấy tội hỡi ôi !

Đó mới biết có nơi địa-ngục.

Kỳ xả tội nay c̣n một lúc,

Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.

Gặp giảng kinh trần cứ làm ngơ,

Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.

Địa-ngục cũng tại Tâm làm quấy,

Về thiên-đàng Tâm ấy tạo ra.

Cái chữ Tâm mà Quỉ hay Ma,

Tiên hay Phật cũng là tại nó.

Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,

Nếu lặng Tâm tỏ-ngộ Đạo mầu.

 

 Trang 125

 

Cảnh dương-gian muôn thảm ngàn sầu,

Ngó vạn vật đài lầu chẳng có.

Sông với núi trước kia mắt ngó,

Khi chết rồi thấy nó đặng nào.

Ai biết đường hăy sớm tẩu-đào,

Kiếm Đạo-lư mà nhờ mà nhơi.

Chịu cay-đắng tu hành mới giỏi,

Ta thương đời len-lỏi xuống trần.

Đạo vô-vi của Phật ân-cần,

Nối theo chí Thích-Ca ngày trước.

Câu phú-quí Ngài không màng-ước,

Chữ bồ-đề như cội bá-ṭng.

Rán dưỡng nuôi chữ đó trong ḷng,

Th́ là được định chừng diệu-quả.

Lời thuyết-pháp chẳng v́ nhơn-ngă,

Người nào đâu có Phật-tánh là.

Xem kệ nầy như ngọc như ngà,

Phải nảy nở như cơn mưa thuận.

Hạp mùa tiết giống kia bất luận,

Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.

Trông chúng-sanh nghĩ tận đuôi đầu,

Về Cực-Lạc mới là hết khổ.

Đạo với lư từ đây nhiều chỗ,

Phải lọc-lừa cho kỹ mà nhờ.

Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,

Th́ mới được thân sau cao-quí.

Nh́n Phật-Giáo mà t́m cái lư,

Coi tại sao ta phải tu hành.

V́ yêu dân Ta kể ngọn-ngành,

Khuyên lê-thứ làm lành mà tránh.

 Trang 126

 Cảnh Niết-Bàn là nơi cứu cánh,

Về chốn ni xa lánh hồng-trần.

Dầu không siêu cũng đặng về Thần,

Nhờ hai chữ trung-quân ái-quốc.

Chừng lập Hội biết ai c̣n mất,

Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.

Ta v́ vưng sắc-lịnh Ngọc-Ṭa,

Đền Linh-Khứu sơn-trung chịu mạng.

Nền đạo-đức Ta bày quá cạn,

Mà dương-gian c̣n gạn danh từ.

Làm cho Ta lỡ khóc lỡ cười,

Khóc là khóc thương người ngu-muội.

Thấy Điên Khùng làm như sắt nguội,

Chẳng tranh đương nó lại khinh-khi.

Ngó về Tây niệm chữ từ-bi,

Cười trần-thế mê-si thái quá.

Tranh với luận đặng giành cơm cá,

Khuyến-dụ người đặng kiếm bạc tiền.

Thấy chúng-sanh ghét ngỏ ganh hiền,

Theo chế-nhạo những người tu-tỉnh.

Tu không tu cũng không mời thỉnh,

Mặc t́nh ai trọng-kỉnh hay chê.

Thương lê-dân c̣n mảng say mê.

Chẳng tu-tỉnh cho rành sương nắng.

Thấy Ta lại nói cay nói đắng,

Đắng với cay Ta cũng chẳng màng.

Chừng trần-gian kiến thấy phụng-hoàng,

Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.

Thấy đạo-lư chớ nào thấy tánh,

C̣n ẩn nơi tim óc xác phàm

 

Trang 127

 

 Ai biết tri việc phải cứ làm,

Sau mới biết ai Phàm ai Thánh.

Đức Lục-Tổ ít ai dám sánh,

Người dốt mà nói pháp quá rành.

Lựa làm chi cao chữ học hành,

Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo.

Việc cổ-tích cần chi phải thạo,

Chuyện qua rồi kể lại làm ǵ.

Nếu ai mà biết chữ tu-tŕ,

Tâm b́nh-tịnh được th́ phát huệ.

Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ,

Khuyên tăng-đồ cùng các tín-đồ

Nghe cạn lời chớ có mờ-hồ,

T́m hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo.

Trần với thế nó hay kiêu-ngạo,

Các nhà sư hăy rán sửa ḿnh,

Nếu xuất gia ngũ-giái rán ǵn,

Tu chơn-chánh mới không hổ tiếng.

Cả ngàn năm nhơn tâm xao-xuyến,

Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.

Bởi chữ tu liền với chữ hành,

Hành bất chánh người đời mới nói.

Bị tăng chúng quá ham chùa ngói,

Nên tởi khuyên khắp chốn cùng làng.

Phật nào ham tượng cốt phết vàng,

Mà tăng tạo hao tiền bá-tánh.

Việc giả-dối từ đây nên lánh,

Bổn-đạo ôi ! hăy rán sửa ḿnh.

Cuộc dạy đời Ta lắm công-tŕnh,

Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.

 Trang 128

 Lời chơn-chánh trần hay bỏ liếp,

Măi lo làm húng-hiếp người hiền.

Mà làm cho Ngọc-Đế thảm-phiền,

Muốn trừng-trị trần-gian thảm-thiết.

Đức Phật-Tổ tâm Ngài nhứt quyết,

Tâu Ngọc-Hoàng để Phật dạy trần.

Nên ra Kinh, Cơ-Giảng nhiều lần,

Mà dương-thế chẳng cần xét đến.

Xác trần-tục như cây cạnh khến,

Làm hiền hoài ¡t phải tiêu ṃn.

Đẽo với bào riết nó cũng tṛn,

Đến chừng đó trông vào rất tốt.

Lũ giả-dối thường hay thề-thốt,

Nó chẳng kiêng Thần Thánh là ǵ.

Tâm kẻ hung làm chuyện cố-lỳ,

Chẳng có sợ mang điều tội phước.

Ghét những kẻ tu hành bốc-xước,

Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.

Bước vào chùa thấy Phật lạy dài,

Lui khỏi cửa ra tay cấu-xé.

Thấy quyền-quí nó hay dựa mé,

Đặng bợ-bưng những kẻ hung-sùng.

Ta thương đời nói những chuyện cùng.

Chẳng có vị có dung kẻ quấy.

Cuộc sám-hối vô chùa thường thấy,

Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.

Thấy dương-gian lường gạt Thánh Thần,

Mà chua xót cho đời Nguơn-Hạ.

Chữ tự hối nào ai có lạ,

Là ăn-năn cải-sửa tâm lành.

 

 Trang 129

 

 Phật chẳng qua dụng chữ tín-thành,

Chớ nào dụng Hương, Đăng, Trà, Quả.

Làm chay đám tạo nhiều xá-mă,

Bay về Tây nói những chuyện ǵ ?

Thấy chúng tăng làm chuyện quái kỳ,

Ta khuyên măi cũng không chịu bỏ.

Lời chơn-chánh h́nh như nói xỏ,

Mà không không nào có biếm đời.

Thấy lạc-lầm khuyên nhủ ít lời,

Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.

Coi tâm kệ làm theo mới trúng,

Để lạc-lầm lắm bớ tăng-đồ !

Định tâm-thần như mặt nước hồ,

Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.

Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,

Ghi vào ḷng sáu chữ Di-Đà.

Th́ hiền-lương quên mất điều tà,

Đặng hạnh-phúc nhờ ḷng cố-gắng.

Việc đạo-đức bất cần thối thắng,

Chữ tu hiền ngay thẳng lần hồi.

Thấy Thiên-cơ khó nỗi yên ngồi,

Thương lê-thứ tới hồi khổ-năo.

Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,

Như vịt con d́u-dắt nhờ gà.

Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,

Nay gặp gốc phải mau t́m gốc.

Để gặp Phật ngồi mà than khóc,

Gỡ làm sao hết rối mà về.

Mắt nh́n xem yêu quái bốn bề,

Bởi ác đức nên không ai cứu.

 Trang 130

 Mang thủy ách hồi năm Đinh-Sửu,

Đến năm nay tái lại một lần.

Khổ-ách nầy đặng thức-tỉnh trần,

Rằng thiên-định tuồng đời sắp hạ.

Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng-mạ,

Bị văn-minh cám dỗ loài người.

Kể từ rày cười một khóc mười,

Kẻo chúng nó dể-ngươi Phật Thánh.

Đạo Quỉ-Vương rất nhiều chi ngánh,

Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.

Để ngày sau đến việc thảm-sầu,

Rán nghe kỹ lời Ta mách trước.

Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,

Lọt ngoài khơi mới hết ḥ khoan.

Tu mà ham cho được giàu sang,

Với quyền tước là tu dối thế.

Nhớ thuở trước vua Lương-Vơ-Đế,

Tạo chùa-chiền khắp nước tu hành.

Đến chừng sau ngạ-tử Đài-thành,

Phật bất cứu v́ tâm c̣n ác.

Tu biết cách như đươn biết đát,

Đươn đát rành đặng dựa Xe-Loan.

Ai biết nghe th́ sớm liệu toan,

Để đến việc như người thất nghiệp.

Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,

Rán mau chơn mới kịp Đạo mầu.

Sớm với chiều gắng chí nguyện-cầu,

Th́ sẽ được Ṭa-Chương dựa kế.

Chúng-sanh thể như gà thất thế,

Phải nằm chờ tới nước bắt ra.

 Trang 131

 Thời-kỳ nầy nhiều up cùng ma, 

Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.

Nên Ta mới ra tay cứu-tế,

Kẻo chúng-sanh bịnh khổ quá chừng.

Sau Quỉ-Vương đi đứng nửa lừng,

Thêm tên tuổi chúng-sanh nó biết.

Làm đủ cách xuống lên tha-thiết,

Ở ngoài đường nó biết tên ḿnh.

Tin cùng không th́ cũng mặc t́nh,

Chớ Ta lắm công-tŕnh dạy-dỗ.

Hồi thuở trước Thích-Ca Phật-Tổ,

Ngồi tham-thiền bị nó ghẹo hoài.

Mà cũng không rúng động đặng Ngài,

Nên cố oán phá đời măi măi.

Trong bổn-đạo cùng là sư văi,

Rán bền ḷng cho được hiền từ.

Hết khổ-lao th́ đến vui cười,

Chừng đó mới phỉ-t́nh nguyện-ước.

Bọn gái mới ra đường tha-thướt,

Bỏ hết trơn nề-nếp ông cha.

Khác tánh-t́nh người cổ nước ta,

Nên phải chịu đớn-đau đủ cách.

Trai với gái rán coi sử sách,

Đứng trung-thần với kẻ tiết-trinh.

Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,

Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt.

Dạy chẳng đặng ḷng như lửa đốt,

Khắp dương-gian chưa đặng ba phần.

Kể từ nay Tiên, Phật, Thánh, Thần,

Lo dạy-dỗ dương-trần chẳng xiết.

 Trang 132

 Đức Thượng-Đế ngự đền Ngọc-Khuyết,

Nh́n dương-gian cũng luống thở dài.

Thấy chúng-sanh trau-trỉa mặt mày,

Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.

Kẻ đói khó người sang hay lánh,

Bước lại gần chê lũ tanh-hôi.

Cơi ta-bà Ta thấy hỡi ôi !

Sầu bá-tánh quá nên kiêu-cách.

Người tàn-tật đui cùi đói-rách,

Ít có ai để mắt nh́n vào.

Chuộng những người dù vơng sắc màu,

Cậu với mợ, ông-thầy, cô-bác.

Thị kẻ khó như rơm như rác,

Ta quá rầu đài-các văn-minh.

Mấy ai mà giữ dạ sắt đinh.

Theo Tông-Tổ của ḿnh thuở trước ?

Đầu với tóc áo quần láng-mướt,

Chữ lanh khôn của quỉ của ma.

Chớ nó không có giống người ta,

Ma với quỉ sanh người hung ác.

Lo tập luyện những câu đờn hát,

Chớ chẳng lo dạy-dỗ ngu khờ.

Để cái tâm yên-lặng như tờ,

Coi Ta nói câu nào bất chánh ?

Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,

Nếu thiệt người th́ biết thương người.

Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,

Nào có lấy lời chi chỉ bảo.

Ta thương xót lo tần lo tảo,

Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.

 Trang 133

                                            

 Làm cho người Thượng-Cổ thêm phiền,

Rất đau xót cho ṇi cho giống.

Biết chừng nào được qui nhứt thống,

Khắp hoàn-cầu dân biết thương nhau.

Nhắc ra th́ dạ ngọc đớn-đau,

Không nhắc đến biết đâu dân sửa.

Cơm được chín ta nhờ có lửa,

Dân được vui nhờ lúc khải-hoàn.

Phật Như-Lai cho phép Khùng troàn,

Cho bổn-đạo khắp nơi đặng biết.

Ai chưởi mắng th́ ta giả điếc,

Đợi cho người hết giận ta khuyên.

Chữ nhẫn-ḥa ta để đầu tiên,

Th́ đâu có mang câu thù-oán.

Việc hung-ác hễ vừa thấp-thoáng,

Chữ từ-bi ta diệt nó liền.

Sự oán-thù đáp lại chữ hiền,

Th́ thù-oán tiêu-tan mất hết.

Chữ bạn-tác dầu cho đến chết,

Cũng keo-sơn gắn chặt mới là.

Bước ra đường ăn nói thiệt-thà,

Dầu khôn-khéo cũng là giả dại.

Nếu tranh-đương ắt ta bị hại,

Thêm sa-cơ lại bị xích-xiềng.

V́ đời nay chúng nó dụng tiền,

Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.

Theo học Đạo mặc ai mai-mỉa,

Ta cũng đừng gây-gổ với người.

Được mấy điều th́ đáng vàng mười,

Thiệt hiền-đức có ai mắng chưởi.

 

 Trang 134

 

 Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,

Ngài nói rằng các việc tại mầy.

Thuận với ḥa hay ghét với rầy,

Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.

Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,

Lấy tâm-thần làm chủ mới mầu.

Cũng chẳng nên theo tánh Vơ-hầu,

Thấy chẳng nói mà nhăn mà nhướng.

Hăy liệu sức chớ nên nói bướng,

Dầu việc chi liệu lượng mà làm.

Điên Khùng nầy chẳng có nói xàm,

Nói những chuyện từ-bi bác-ái.

Nếu bổn-đạo c̣n ai làm sái,

Coi kệ nầy ḿnh sửa lấy ḿnh.

Ta không tranh mà cũng không ḱnh,

Cho bá-tánh gièm-pha thỏa chí.

Ai làm phước in ra mà thí,

Th́ được nhiều hạnh-phúc sau nầy.

Chốn non xanh dạy-dỗ cáo-cầy,

Xuống trần-thế ra tay dắt chúng.

Tới với Ta chớ đem đồ cúng,

Chỉ đem theo hai chữ thành-ḷng.

Chẳng có cần trà, quả, hương-nồng,

Mong sanh-chúng từ-ḷng hối-ngộ.

Kẻ xa-xuôi có ḷng ái mộ,

Xem Kệ nầy tu tỉnh tại nhà.

Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,

Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.

Chay bốn bữa ấy là quy-tắc,

Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng-sanh.

 Trang 135

                                                                                        

 Con Phật th́ chẳng có khôn-lanh,

Đời văn-vật khôn ma khôn quỉ.

Lo trang-sức kim-thời huê mỹ,

Rồi phụ-phàng tục cổ nước nhà.

Trong tâm th́ chứa chữ gian-tà,

Chớ chẳng chứa tấm ḷng bác-ái.

Học chữ nghĩa cho thông cho thái,

Đặng xuê-xang đài-các xe-tàu.

Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,

Trong tâm-ư mưu-mô đủ thế.

Ta c̣n mắc phiêu-lưu dương-thế,

Dạo Lục-Châu đặng cứu bá-gia.

Mặc t́nh ai xem kệ ngâm-nga,

Hay sửa đổi tùy ḷng hưu-hỷ.

Thương sanh-chúng tỏ bày quá kỹ,

Hỡi dương trần nên sớm quày đầu.

Đặng sau xem Phật-pháp nhiệm-mầu,

Với báu quí đài-lầu tươi tốt.

Xác Ta vốn là người quê dốt,

Nên mở mang chưa được mấy rành.

Khắp dương-gian như sợi chỉ mành,

Mong bổn-đạo tâm thành trở lại.

Dầu cực-khổ thân nầy chẳng nại,

Chẳng cần ai bái lạy khẩn-cầu.

Bỏ dị-đoan mới thấy Đạo-mầu,

Bớt giả-dối gặp Người Thượng-Cổ.

Gốc thuở trước của Tông của Tổ,

Đâu có bày dối-mị như vầy.

Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,

Dân rán kiếm mà truy th́ biết.

 

 Trang 136

 

 Xưa để lại nhiều câu thảm-thiết,

Mà nào ai có biết để ḷng.

Chuyện Thiên-Cơ nói rất năo-nồng,

Câu hữu lư bá-ṭng khó sánh.

Chốn tựu hội chớ nên léo-hánh,

V́ lời xưa có dặn rạch-ṛi.

Dân chớ nên phụ-bạc giống ṇi,

Th́ lao-lư tấm thân vô ích.

Phải nhẫn-nhục chờ Người Cổ Tích,

Phật với Trời phân định cho ta.

Người xưa tuy ít chữ nôm-na,

Chớ chơn-chất người ta ngay thẳng.

Dạy bổn-đạo lấy câu trung-đẳng,

Chẳng nói cao v́ sắp rốt đời.

Đấng nam-nhi ẩn-nhẫn tùy thời,

Vậy mới gọi khôn-ngoan hữu chí.

Ta ra sức viết câu huyền-bí,

Chúng dân ôi ! rán kiếm rán tầm.

Giống thú kia là loại sanh cầm,

Mà c̣n biết kiếm tầm đạo-đức.

Thú-vật biết tu-hành náo-nức,

C̣n người sao chẳng rứt hồng-trần ?

Việc tu-hành phải vẹn nghĩa ân,

Kinh với Sấm chúng dân thường thấy.

Chữ Bát-Chánh rơ ràng trong giấy,

Là chơn truyền của Đức Thích-Ca.

Người tu hành cần phải t́m ra,

Cho dân biết mục đầu Chánh-Kiến.

Trí linh-mẫn nh́n xem các chuyện,

Phải đừng cho lầm-lạc nẻo tà.

 

 Trang 137

 

 Dầu việc người hay việc của ta,

Nên phán-đoán cho tường cho tận.

Tội với phước xét coi nhiều bận,

Mới khỏi lầm tà-kiến đem vào.

Chánh Tư-Duy mục ấy thanh-cao,

Hăy tưởng nhớ những điều đáng nhớ.

Trên cùng dưới dầu thầy hay tớ,

Cũng tưởng điều trung-chánh mới mầu.

Việc vui say mèo-mả đâu đâu,

Hăy dẹp gác nhớ câu Lục-Tự.

Câu Chánh-Nghiệp cũng là quá bự,

Dầu nghề chi làm việc ngay đường.

Ta đừng nên theo kẻ bất lương,

Học ngón xảo để lừa đồng loại.

Chánh Tinh-Tấn dầu thành hay bại,

Cứ một đường tín-ngưỡng của ḿnh.

Dầu cho ai phá rối đức tin,

Ta cũng cứ một đàng đi tới.

Mục Chánh-Mạng chúng-sanh ơi hỡi,

Cho hồn-linh cai-quản châu-thân.

Lấy chơn-nhơn dẹp tánh phàm-trần,

Mới có thể mong về Cực-Lạc.

Câu Chánh-Ngữ ḷng son ghi tạc,

Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường.

Nói những điều đức-hạnh hiền-lương,

Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.

Việc tráo-chác ấy là nguồn cội,

Lời xảo ngôn do đó mà ra.

Kinh-nghiệm rồi Ta mới diễn ca,

Câu Chánh-Niệm thiết-tha nhiều nỗi.

Trang 138

Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi,

Phải làm tṛn các việc vẹn toàn.

Dân chớ nên làm bướng làm càn,

Trong lúc ấy niệm cho lấy có.

Mục Chánh-Định thiệt là rất khó,

Giữ tấm ḷng bất động như như.

Cho hồn-linh yên-lặng an cư,

Th́ mới được huờn-nguyên phản-bổn.

Tà với chánh c̣n đương trà-trộn,

Người muốn tu phải sớm lọc-lừa.

Tứ-Diệu-Đề ai có mến ưa,

Th́ Lăo cũng kể sơ thêm nữa.

Chữ Tập-Đề nay đà mở cửa,

Để đem vào khuôn-khổ người hiền.

Rán cực ḷng một bước đầu tiên,

Sau mới được làm nên Phật-Thánh.

Về Thượng-Giái cơi Tiên mới bảnh,

Đến Diệt-Đề trừ vật-dục xưa.

Cơi hồng-trần các việc mến ưa,

Sự giả tạm ta nên rứt bỏ.

Muốn tâm-tánh ngày kia sáng tỏ,

Th́ Khổ-Đề phải chịu nhọc-nhành.

Ḷng dục tu th́ phải thiệt-hành,

Chớ đừng có ham điều sung-sướng.

Đức Phật-Tổ nào đâu hẹp lượng,

Chịu nhọc-nhằn mới rơ Đạo-Đề.

Thấy một đàng thẳng-bẳng mà mê,

Ôi chừng đó mới là mầu-nhiệm.

Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,

Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta.

 

 Trang 139

 

 Rồi hành luôn Bát-Nhẫn mới là,

Th́ muôn việc đều an bá tuế.

Chữ thứ nhứt Nhẫn-Năng-Xử-Thế,

Là người hiền khó kiếm trong đời.

Lập thân danh tuần trải nơi nơi,

Chờ thời-đại mới là khôn khéo.

Chữ Nhẫn-Giái tŕ tâm trong trẻo,

Khuyên dương-trần giữ phận làm đầu.

Nhẫn-Hương-Lân cùng khắp đâu đâu,

Trên cùng dưới đều ḥa ư hỉ.

Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền sĩ,

Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.

Nhịn xóm cḥm cô bác mới cao,

Nhẫn-Tâm nọ ngày ngày an-lạc.

Nhịn tất cả những người tuổi tác,

Nhẫn-Tánh lành yên-tịnh dài lâu.

Giữ một ḷng hiền-hậu mới mầu,

Quanh năm cũng bảo toàn thân-thể.

Chữ Nhẫn-Đức kể ra luôn thể,

Th́ trong đời vạn sự b́nh an.

Chữ Nhẫn-Thành báu-quí hiển-vang,

Khắp bá-tánh được câu ḥa-nhă.

Câu đạo-đức bay mùi thơm lạ,

Muốn nếm th́ phải rán sưu tầm.

Các Đạo tà mưu khéo âm thầm,

Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.

Chúng nó xuống khuyên-răn nhiều chỗ,

Dùng phép mầu ḷe mắt chúng-sanh.

Ai ham linh theo nó tập-tành,

Sa cạm-bẫy khó mong sống sót.

 Trang 140

 Ta chẳng phải dùng lời chuốt-ngót,

Mà làm cho dân-chúng say mê.

Nẻo chánh tà biện-luận nhiều bề,

Cho bá-tánh t́m nơi cội-gốc.

Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,

Đừng để lầm thợ khéo sơn da.

Th́ sau nầy đến lúc phong-ba,

Dông gió lớn cột kèo khỏi găy.

Thấy sanh-chúng nhiều người khờ dại,

Chẳng biết ǵn phong-hóa lễ-nghi.

Nên ta đem đạo đức duy-tŕ,

Ǵn tục cổ để người chẳng rơ.

C̣n chậm-chạp Đạo-mầu chưa tỏ,

Như rừng hoang mới dọn một đường.

Tớ với Thầy nào quản thân lươn,

Muốn cứu thế sá chi bùn trịn.

Thương quá sức nên Ta bịn-rịn,

Quyết độ đời cho đến chung thân.

Nếu thế-gian c̣n chốn mê tân,

Th́ Ta chẳng an vui Cực-Lạc.

Dạy bổn-đạo lấy lời đích-xác,

Mà chẳng tu là bởi không ưa.

Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,

Dân đông-đảo lời truyền chẳng xiết.

Nên phải tạm mượn cây ng̣i viết,

Đem Đạo-mầu như hạn cho mưa.

Đặng tố-trần tâm ư Người Xưa,

Chữ thậm thâm trong kinh Phật-Giáo.

Nền chơn-lư chúng chê rằng láo,

Mà nào Ta có lợi-dụng ai.

 Trang 141

                                                                                    

 Trong bá-gia nhiều ít ḷng chay,

Để giữ trọn trong nền Phật-Pháp.

Ǵn giới cấm sửa tâm ô-tạp,

Niệm Phật th́ phải dẹp ḷng tà.

Nhớ từ-bi hai chữ ngâm-nga,

Dầu làm lụng cũng là tŕ chí.

Chờ Thiên-Địa châu-nhi phục-thỉ,

Như đời xưa có gă Tử-Pḥng,

Xem thời cơ người đă rơ thông,

Dùng tôi thiểu mà an bá-tánh.

Đời vật-chất văn-minh tranh-cạnh,

Chữ lợi quyền giựt-giết lẫn nhau.

Động ḷng hiền chư Phật đớn đau,

Cho kinh sấm dạy răn trần-thế.

Nh́n thấy chuyện gạo châu củi quế,

Nghèo bạc vàng đạo-đức cũng nghèo.

Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo,

Nên phải bị kẻ hung khinh-bỉ.

V́ bác-ái nên thân Cuồng-Sĩ,

Phải chịu điều khổ hạnh sâu-xa.

Mong cho đời gặp lúc khải-ca,

Trong bốn biển thái-b́nh mới toại.

Phật, Tiên, Thánh, ḷng nhơn hà-hải,

Những ước-ao thế-giới ḥa-b́nh.

Nên khuyên đời truyền-bá sử-kinh,

Cho sanh-chúng sửa ḿnh trong sạch.

Giàu đổi bạn khinh-khi kẻ rách,

Là những câu trong sách Minh-Tâm.

Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,

Thánh-nhơn để nhiều câu hữu-lư.

 Trang 142

 Có mấy kẻ ăn-năn xét kỹ ?

Măi ỷ tài chê bướng chê càn.

Th́ ngày sau đừng có trách than,

Những tội lỗi của ḿnh tạo lấy.

Bị háo-thắng việc người không thấy,

Rồi mảng lo gièm-siểm nhiều lời.

V́ vậy nên t́nh nghĩa xe lơi,

Đâu gần-gũi mà tường diệu lư.

Trong Lục-Tỉnh ai là người trí,

Mau thức thời t́m Đạo nhiệm-sâu.

Khuyên dân đừng chia áo rẽ bâu,

Phải hợp-tác gieo trồng giống quí.

Coi rồi phải thân ḿnh tự trị,

Chẳng độ xong Phật khó dắt-d́u.

Thả thuyền Từ bến Giác nâng-niu,

Kẻ hiểu Đạo mau mau bước xuống.

Việc trải qua như mây gió cuốn,

Nh́n cuộc đời ngày tháng thoi đưa.

Trời sáng ra kế lại thấy trưa,

Năm cũ đó rồi qua năm mới.

Mười hai tháng mà c̣n mau tới,

Th́ tuồng đời cũng chóng đổi thay.

Chữ phù-vân phú-quí nay mai,

Luân với chuyển dời qua đổi lại.

Cơi Ta-Bà mấy ai tồn-tại,

Sống dư trăm như tuổi lăo Bành.

Đời Hạ-Nguơn hay chết tuổi xanh,

Như thuở trước Nhan-Hồi c̣n trẻ.

Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,

Buổi bần hàn đặng có tu thân.

 Trang 143

 Nhờ ơn Trời ban-bố đức ân,

Xem chung cuộc Phong-Thần tại thế.

Xử những kẻ hung-hăng tồi-tệ,

Thưởng những người trung nghĩa vẹn toàn.

Ra Kệ nầy hai chữ bảo-an,

Cho trần-thế được tâm thanh-tịnh.

Ngọc báu quí ẩn trong Nam-đỉnh,

Muốn t́m kim đáy biển gắng công.

Thấy dân t́nh luống những ước-mong,

Gặp giống tốt hăy mau cày cấy.

Ai có nói Ta là người quấy,

Ta cũng cam bụng chịu tiếng lời.

Tỏ ít câu cầu chúc cho đời,

   Mong bá-tánh vạn dân giải-thoát. 

* * *

   <<PREVIOUS                                                        Trở Lên                                                              Quyen 5

 

 

To Contact Phật Giáo Ḥa Hảo Texas, E-MAIL
Copyright © 2001 
All rights reserved by Phật Giáo Ḥa Hảo Texas, also known as Phật Giáo Ḥa Hảo Dallas.
For problems or questions regarding this web contact [web-master].
Last updated: March 02, 2013.